Top 3 bài Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính siêu hay – Ngữ văn lớp 11

Bạn đang xem: Top 3 bài Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính siêu hay – Ngữ văn lớp 11 tại thptnguyenchithanhag.edu.vn

Đề bài: Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

Bài thơ Tương Tử được in trong tập thơ Lạc bước sang ngang. Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ mộc mạc của Nguyễn Bính.

Tâm trạng của chàng trai trong bài thơ

Bản chất lý trí của trạng thái cảm xúc tâm hồn không chỉ là nỗi nhớ mà là một phức hợp của những cảm xúc khác nhau, với những diễn biến khó lường.

Tâm trạng tương tư trong bài thơ phát triển qua nhiều sắc thái tình cảm chính như sau:

Bỏ lỡ:

Thôn Đoài nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười thương một người

Mưa gió là bệnh của trời

Tình yêu là căn bệnh của tôi, tôi yêu cô ấy.

Bối rối, buồn bực:

Hai làng chung một làng

Sao bên đó không qua đây?

Than thở:

Ngày qua ngày, ngày qua ngày

Nhuộm lá xanh đã thành lá vàng

Chửi mắng:

Bao rằng lối rẽ thuyền ngang

Nếu bạn không đi, không có cách nào để đi

Nhưng đây là một gia đình đi

Cách xa, nhưng tình yêu xa

Mối quan hệ đã được vài đêm

Biết ai, hỏi ai, ai biết?

Đói khát, mơ mộng:

Khi nào chúng ta sẽ gặp thuyền?

Hoa và bướm gặp nhau

Xa Xăm:

Tôi có một miếng trầu trong nhà của tôi

Nhà tôi có một hàng cau ngăn giữa các phòng

Thôn Đoài nhớ thôn Đông

Có làng nào giàu bằng xứ Đoài?

Sự phức tạp pháp lý trong tâm lý của tình yêu

Có gì đó không ổn trong cách thể hiện tình cảm của người con trai trong bài thơ. Trong tình yêu, người chủ động tiến tới phải là người con trai, ở đây anh ta đang ở thế bị động, chờ đợi tình yêu. Thể hiện sự thụ động, nhưng cũng hờn dỗi và trách móc. Đó là sự phi lý bên ngoài.

Tuy nhiên, trong cái phi lý ấy lại thể hiện cái hợp lý của nó. Đó là logic của chiều sâu.

Thứ nhất, đây là một bài thơ, tác giả đã tạo ra một tình huống trữ tình để bộc lộ cảm xúc của mình chứ không dựa vào những nguyên nhân khách quan. Nhà thơ phải đặt anh thanh niên vào thế bị động mới có thể bày tỏ được tình cảm của một chàng trai quê mùa chất phác.

Thứ hai, cách đổ lỗi này không phải vì ghét bỏ, khác với cách đổ lỗi thông thường là trách móc, trách móc mà là trách móc tình cảm. Do sự khao khát, bị nỗi nhớ dày vò, những người liên quan dễ nghĩ họ vô tâm nên sinh ra trách móc, không có hàm ý hận thù. Nói cách khác, đổ lỗi chỉ là một cách thể hiện tình yêu.

Cách thể hiện thời gian của tác giả

Tâm trạng nôn nóng, mòn mỏi chờ đợi không thể tách rời khỏi biểu hiện của thời gian. Nổi bật là cách ngắt nhịp, lặp lại, kể và miêu tả ngụ ngôn, sử dụng sự thay đổi của không gian để diễn đạt thời gian.

Lời bài hát có nghĩa là: Ngày qua ngày, ngày qua ngày

Nhịp 2/2/2 thông thường của câu thơ lục bát truyền thống đã được ngắt thành nhịp 3/3: Ngày lại ngày/ Lại ngày. Câu sau và câu lặp lại câu trước. Cách ngắt này làm cho đoạn văn ở đầu nhịp sau trở thành điểm nhấn của ngữ điệu. Nó gợi dòng thời gian trôi đi thật chậm, ngày mới lặp lại ngày cũ một cách nhàm chán vô vọng. Ngay cả việc ngắt nhịp, lặp câu và nhấn giọng ở các từ cũng khiến cho giọng thơ như một lời than thở ngao ngán. Tất cả những điều đó đã làm nên hình ảnh người con trai với tâm trạng khắc khoải chờ đợi.

Câu bát: Nhuộm lá xanh đã hóa vàng

Đoạn thơ miêu tả thời gian và tâm trạng thật tinh tế và đáng suy ngẫm. Thời gian trong câu nói trên diễn ra chậm nhưng nó vừa thể hiện xuyên suốt câu chuyện. Trong câu tiếp theo, thời gian trở nên sống động. Thời gian có màu sắc, nói đúng hơn, thời gian được thể hiện qua sự đổi màu: lá xanh chuyển sang vàng. Ngày anh bắt đầu chờ đợi, lá còn xanh, giờ lá đã ngả vàng, nhưng vô vọng vẫn là vô vọng. Thời gian và tâm trạng dường như không có điểm chung; thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề; Tâm trạng càng nôn nóng càng làm chậm và mất thời gian. Tinh tế nhất trong cách diễn đạt có lẽ là từ nhuộm. Chữ nhuộm diễn tả thời gian trôi chậm. Từ nhuốm màu trong hai câu thơ sau của Nguyễn Du có thể so sánh:

Kẻ lên ngựa, kẻ chia quân

Rừng phong thu đã nhuốm màu quýt.

Tinted đề cập đến một sự thay đổi màu mới, đang diễn ra, chưa hoàn thành. Màu sắc của sự vật thay đổi chủ yếu ở bề mặt và hình dáng bên ngoài. Nhuộm thể hiện sự hoàn thành. Đủ lâu để một màu thay đổi hoàn toàn sang màu khác. Ngoài ra, văn bản nhuộm màu còn bỏ ngỏ chủ đề. Nhuộm nhưng ai nhuộm? Không hẳn là thời gian, cũng không phải màu lá: mà là tình yêu. Tình yêu đã làm cho lòng người khô héo, đã khô héo rồi. Người yêu và cái cây có một mối quan hệ kỳ lạ. Cây vừa là chứng nhân của cuộc tình, vừa là đồng minh của người yêu, là nạn nhân của người yêu, hay là hiện thân của tình yêu. Cây kia có thể coi là cây tương tư. Đó là cái tinh tế, tế nhị trong cách diễn đạt của Nguyễn Bính.

Cảnh quê trong bài thơ

Tình yêu của chàng trai và qua đó là mối nhân duyên của đôi trai gái này càng chân thực hơn bởi nó gắn liền với cảnh sắc cỏ cây nơi thôn quê.

Những chi tiết trong bài thơ, về địa danh, phong cảnh, cây cỏ… thuộc về những miền quê bao đời nay như thôn Đoài, thôn Đông, xóm chèo, sân đình, bến đò, hoa bướm, giàn giầu, hàng cau. ..

Những chi tiết này vừa tạo ra một không gian thôn dã để nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm, vừa là phương tiện, thậm chí là ngôn ngữ để nhân vật trữ tình bộc lộ tâm tư tình cảm một cách tự nhiên, thầm kín. ân cần, chu đáo. Chỉ có như vậy, tình và cảnh mới có thể hòa quyện vào nhau.

Diễn tả tâm trạng của Nguyễn Bính như thế nào?

Cách tạo hình độc đáo, hình ảnh chàng trai thôn Đoài ngồi nhớ cô gái thôn Đông đã khiến nhà thơ mở rộng, khái quát thành thôn Đoài ngồi nhờ thôn Đông. Đây không đơn thuần là cách nói vòng vo, mà quan trọng hơn, nó tạo ra hai nỗi nhớ song song chuyển hóa, gắn liền với hai chủ thể, hai khách thể: người nhớ người và làng nhớ làng. Vì người nhớ người mà làng nhớ làng. Nó tạo cơ sở cho thủ pháp nhân hóa: Thôn Đoài ngồi nhớ… Nhưng sâu xa hơn, cách diễn đạt ấy còn diễn tả một quy luật tâm lý. Khi nghĩ về, cả không gian bao quanh chủ thể cũng nhuốm màu tình yêu ấy nên trong bài thơ có hai miền không gian nhớ về nhau. Lấp đầy cả không gian được tạo nên bởi hai ngôi làng ấy là một nỗi nhớ da diết.

Nghệ thuật sử dụng chất liệu từ đồng quê và văn học dân gian: địa danh thôn Đoài, thôn Đông; dùng thành ngữ chín nhớ mười mong; sử dụng các số từ một, chín, mười, cách tổ chức thơ độc đáo: đẩy đối tượng về hai đầu câu thơ, tạo khoảng cách (Tôn Đoài… thôn Đông, Một người… một người). Cách dùng ngôn ngữ gợi hương vị quê và thể hiện giọng điệu trần thuật, rất phù hợp với việc bộc lộ cảm nghĩ.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

tuong-tu.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Top 3 bài Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính siêu hay – Ngữ văn lớp 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Top 3 bài Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính siêu hay – Ngữ văn lớp 11 bên dưới để Trường THPT Nguyễn Chí Thanh có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenchithanhag.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

Nhớ để nguồn bài viết này: Top 3 bài Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính siêu hay – Ngữ văn lớp 11 của website thptnguyenchithanhag.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm chi tiết về Top 3 bài Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính siêu hay - Ngữ văn lớp 11
Xem thêm bài viết hay:  Phân tích cuộc gặp gỡ của chị Hoài với mọi người trong truyện Mùa lá rụng trong vườn hay nhất (dàn ý - 2 mẫu)

Viết một bình luận