Top 3 bài Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất – Ngữ văn lớp 11

Bạn đang xem: Top 3 bài Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất – Ngữ văn lớp 11 tại thptnguyenchithanhag.edu.vn

Đề bài: Phân tích bài Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ tài sắc vẹn toàn của nước ta vào cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19. Ngoài tập Lưu Hương Ký, bà còn để lại khoảng 50 bài thơ Nôm, phần lớn là thơ đa nghĩa, có cả hàm ngôn và hàm súc. Một số bài thơ trữ tình đằm thắm, tha thiết, bùi ngùi… thể hiện sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, với bao khát khao sống và hạnh phúc trong tình yêu. Chùm thơ “Tự tình” phản ánh những tâm tư tình cảm của Hồ Xuân Hương, của một người phụ nữ đã lỡ tuổi, số phận hẩm hiu,… Đây là bài thơ thứ hai trong chùm ba bài thơ. .

Nhà thơ Xuân Diệu trong bài “Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm” đã viết: “Bộ ba bài thơ trữ tình này và bài Khóc vua Quang Trung của công chúa Ngọc Hân làm thành một cụm riêng, làm nên tiếng chân. sự thật của một người phụ nữ nói về nỗi lòng của chính mình trong đời sống của mình trong văn học cổ điển Việt Nam…” Ông nhận xét thêm về câu thơ và giọng điệu của bài thơ: “…trong bộ ba bài thơ tình cảm này, ngoài bài thơ còn” thơ có vần tự hào và uất ức, bài thơ có vần “on” này vọng, chon von”.

“Đêm khuya vang tiếng trống gác,

Trơ mặt hồng với nước non.

Một chén hương đưa cơn say ngủ yên,

Trăng lưỡi liềm chưa tròn.

Xiên đất rêu thành cục,

Đập mây, đá vài hòn.

Mệt mỏi của mùa xuân, mùa xuân một lần nữa,

Một mảnh tình san sẻ con ơi!”.

Ở hai trong ba bài thơ, nữ sĩ nói về cảnh khuya, tiếng canh khuya. “Tự tình” nàng vi “Tiếng gà gáy trên bom – Nỗi uất hận trông ra từng chòm”. Ở bài thơ này cũng vậy, đêm khuya cô thức, hay thao thức suốt đêm, tâm trạng rối bời. Tiếng trống vọng từ chòi canh xa như giục thời gian mau qua, đời người phụ nữ cứ thế trôi qua thật nhanh: “Canh khuya vang tiếng trống canh”. “Hồng nhan” là mặt hồng hào, chỉ đàn bà. “Trơ” có nghĩa là đờ đẫn, trơ ra, chai lì, mất hết cảm giác. “Nước non”: chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội.

Câu thơ: “Mặt trơ với nước non” diễn tả một tâm trạng: con người đang buồn nhiều nỗi niềm, nay nét mặt trở nên trơ trơ trước cảnh vật, trước cuộc đời, như gỗ đá, mất hết cảm giác. Nỗi đau buồn đã lên đến tột cùng. Từ “sự” kết hợp với từ “hồng nhan” làm cho giọng thơ trầm xuống, làm nổi bật thân phận, thân phận, tiền định vốn đã quá éo le. Ta có cảm giác tiếng trống đêm khuya, thời gian như cơn gió thoảng qua cuộc đời, quá khứ số phận và thân phận nhà thơ. Người này đang than rằng số phận đã có một tuổi trẻ đáng tự hào: “Thân em vừa trắng vừa tròn”, có đức hạnh của một “trai có tâm”, lại có tài nhưng giờ đây anh đang phải trải qua nhiều thử thách. đêm cay đắng. Qua đó, ta thấy chính xã hội phong kiến ​​lúc bấy giờ chính là tác nhân làm cho khuôn mặt hồng nhan teo tóp, khô héo.

Đằng sau hai câu kết là những tiếng thở dài ngán ngẩm. Cố gắng vùng vẫy để thoát ra, thoát ra khỏi nghịch cảnh, nhưng đâu có dễ! Tiếp theo là hai câu thực:

“Một chén hương đưa say cho tỉnh,

Trăng lưỡi liềm còn chưa tròn.”

Nghệ thuật rất có thần: “chén rượu” có “trăng”, trên có “hương”, dưới có “bóng xế”, đặc biệt ba chữ “say cho tỉnh” và “khuyết không tròn” đăng đối nhau, đối đáp với nhau khác làm nổi bật bi kịch của người phụ nữ dở dang, cô đơn. Tôi muốn mượn chén rượu để an ủi lòng mình, nhưng vừa nâng chén rượu lên môi, hương thơm đã thoang thoảng vào mặt, vào mũi. Tưởng uống cho say để quên bao nhiêu buồn, nhưng càng uống lại càng tỉnh. “Say để rồi say lại tỉnh”, cái vòng luẩn quẩn đó về số phận của nhiều người phụ nữ đương thời, trong đó có Hồ Xuân Hương, như một sự bất công. Buồn cho thân phận, bao đêm dài đợi chờ mà tuổi ngày càng “bóng tối”. Hy vọng chờ đợi. Khi nào trăng non sẽ “tròn”? Đến bao giờ thì hạnh phúc tám tay mới trọn vẹn, trọn vẹn? Kỳ vọng gắn liền với khao khát. Càng cô đơn càng đợi, càng đợi càng buồn, đó là bi kịch của những người phụ nữ đã quá tuổi lỡ thời, tình duyên ngang trái, trong đó có Hồ Xuân Hương.

Ở hai câu trong bài, tác giả lấy cảnh để ngụ ý tình. Dưới đây là hai câu thơ tả cảnh “lạ lùng” được viết vào lúc nửa đêm trong tâm trạng chán chường, buồn bã:

“Xiên đất rêu thành cục,

Phá vỡ chân của những đám mây và đá.”

Cấu tứ thơ tương phản để làm nổi bật sự khốc liệt, quyết liệt của cuộc kháng chiến. Từng sợi rêu mềm đến mức có thể “xiên đất”! Chỉ rải rác vài “hòn đá vài hòn” mà cũng có thể “đập nát chân mây” mới là lạ! Hai câu thơ trước hết cho ta thấy thiên nhiên có một sức sống tiềm ẩn đang bị kìm nén đã bắt đầu trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ. Thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ có màu sắc, có đường nét, có hình khối mà còn có cả tấm gương, thái độ, hành động, cũng “xiên ngang…”, cũng “xuyên thủng”… mọi chướng ngại, mọi thế lực. Xuân Hương tự tin, yêu đời. Người đó đang trải qua nhiều bi kịch và vẫn cố gắng đương đầu với cuộc sống. Phản ứng mạnh mẽ, quyết liệt nhưng hiện thực vẫn chua chát. Đêm khuya, giữa thiên nhiên trù phú, xung quanh là bóng tối mênh mông, người đàn bà ủ rũ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Chẳng thế mà trong ca khúc Tự tình, nữ ca sĩ ngậm ngùi viết:

“Mõm không khum mà cũng khum,

Tại sao chuông không kêu, tại sao om?”.

Nỗi đau của cả thế giới dường như dồn lại trong trái tim người phụ nữ cô đơn. Mong muốn được sống trong hạnh phúc, được làm vợ, làm mẹ như bao người phụ nữ khác. Nhưng “bạc mặt”! Đêm đã khuya, người đàn bà trằn trọc không ngủ được, buồn bã, cô đơn, thiếu vắng tình yêu, xuân đi xuân về nhưng tình yêu chỉ là “sẻ cùng con”. đành chấp nhận tình thế:

“Xuân tàn, xuân lại,

Một mảnh tình san sẻ con nhỏ”.

Xuân qua, xuân về, nhưng với người phụ nữ, “năm nào cũng như đuổi xuân đi”… Từ “chán” nói lên nỗi đau, nỗi buồn của người phụ nữ đã lỡ tuổi, đang phải trải qua những mỏi mòn, chờ đợi. Tình yêu thương tưởng như đứt lìa, vỡ ra thành nhiều “mảnh” mà cay đắng chỉ “sẻ chung một đứa con nhỏ”. Bài thơ là lời than thân trách phận. Đây có phải là lần thứ hai Hồ Xuân Hương bị hoàn cảnh? Tình đã vỡ thành “mảnh” và có “sẻ”, có “bé” và “con”. Từng câu chữ như những giọt nước mắt. Câu hát, tâm trạng này càng được nữ ca sĩ làm rõ hơn trong ca khúc Cưới nhau lấy chồng:

“Chăn bông, cái lạnh,

Chém cha cả đời lấy nhau,

Năm là mười hay không,

Thậm chí không đến một vài tháng!.”.

Tóm lại “Tự thương” là lời than thân, tủi thân, xót xa cho thân phận, số phận của mình. Càng cô đơn thức càng buồn. Càng buồn, càng khao khát được sống trong hạnh phúc trọn vẹn. Hiện thực nặng nề, cay đắng bủa vây khiến khuôn mặt lộ ra, “trơ” với nước non, với đời. Người đọc đồng cảm sâu sắc với niềm khao khát sống và hạnh phúc của ca nữ và những người phụ nữ trong xã hội cũ. Giá trị nhân văn là nội dung sâu sắc nhất của thơ tình” của Hồ Xuân Hương.

Cách dùng từ rất đặc sắc, độc đáo thể hiện phong cách nghệ thuật của Hồ Xuân Hương: “trơ mặt đỏ”, “say lại tỉnh”, “khuyết không tròn”, “xéo”, “đập nát”, “chán chường”. đau”, “lại”, “đứa nhỏ”,… Ngôn từ sắc sảo, cảnh sống diễn tả hết những đau khổ éo le của số phận bạc mệnh.Qua đoạn thơ này, ta thấy rõ hơn Hồ Xuân Hương đã đưa ngôn ngữ dân gian, ngôn ngữ đời thường vào ca từ, bình thường hóa, Việt hóa thể thơ bảy chữ “Đường luật”, Bà xứng đáng là “Bà chúa thơ Nôm” của nền thơ ca nước nhà.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

Giới thiệu về kênh Youtube

tu-tinh.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Top 3 bài Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất – Ngữ văn lớp 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Top 3 bài Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất – Ngữ văn lớp 11 bên dưới để Trường THPT Nguyễn Chí Thanh có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenchithanhag.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

Nhớ để nguồn bài viết này: Top 3 bài Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất – Ngữ văn lớp 11 của website thptnguyenchithanhag.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm chi tiết về Top 3 bài Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất - Ngữ văn lớp 11
Xem thêm bài viết hay:  Top 4 Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Viết một bình luận