Top 3 bài Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

Bạn đang xem: Top 3 bài Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất tại thptnguyenchithanhag.edu.vn

Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Bài giảng: Tây Tiến – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Thầy )

Quang Dũng là một nghệ sĩ tài năng, ông không chỉ làm thơ, vẽ tranh, sáng tác nhạc mà phần lớn người ta nhớ đến ông với tư cách là một nhà thơ. Thơ ông nhân hậu, phóng khoáng, lãng mạn và tài hoa. Tây Tiến là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất nét vẽ tài hoa trong sáng tác cũng như trong tâm hồn của chính ông.

Đoạn thơ mở đầu bằng hai câu thơ cũng là cảm xúc chủ đạo của tác phẩm:

Sông Mã đã xa, Tây Tiến

Nhớ núi nhớ chơi vơi

Đối tượng của nỗi nhớ ấy là sông Mã, dòng sông gắn liền với chặng đường hành quân của người lính. Không chỉ nhớ sông Mã mà còn nhớ Tây Tiến, nhớ những người đồng đội, những người đã gắn bó suốt đời gian khổ nhưng vô cùng hào hùng. Và nỗi nhớ ấy cũng bao trùm cả núi rừng – địa bàn hoạt động của Tây quân. Lên. Tất cả nỗi nhớ ấy cô đọng lại trong một nỗi nhớ rất đặc sắc: “Nhớ chơi vơi”, cùng với vần “ơi” trong câu thơ trên làm nổi bật thêm một nghĩa mới: “Chơi vơi” là trạng thái trơ. giữa không gian rộng lớn, không thể bấu víu vào bất cứ thứ gì. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là cô đơn trong thế giới bao la và hỗn độn của nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ da diết, bất tận, da diết, da diết khiến lòng người không khỏi bồi hồi.

Sau mạch nguồn cảm xúc là sự tái hiện về núi rừng Tây Bắc, về người bạn thân thiết một thời của tác giả. Tác giả nhắc nhiều địa danh xa lạ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… để đưa người đọc vào những địa danh hấp dẫn, hoang sơ. Thiên nhiên ấy vô cùng khắc nghiệt, sương mù dày đặc: Sài Khao phủ đoàn quân mỏi. Trên đỉnh Sài Khao, sương mù dày đặc phủ kín đường đi, chôn vùi cả đoàn quân. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi, đuối sức. Con người trở nên thật nhỏ bé giữa biển sương mù dày đặc bao la ấy… Ấn tượng tiếp theo được tác giả tập trung viết là núi cao, vực sâu, đèo dốc: Lên dốc khúc khuỷu/ Lợn hút rượu mùi trời / Nghìn thước lên, ngàn thước xuống. Câu thơ chủ yếu dùng bút pháp tạo nên những đường nét khỏe khoắn, gân guốc, vẽ nên sự hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên. Nhịp thơ ngắt 4/3 như ngắt đôi câu thơ tạo nên độ cao dốc và quanh co của sườn núi. Đồng thời, ông vận dụng linh hoạt những từ ngữ giàu khúc chiết, thăm thẳm, quyến rũ đặt liên tiếp để diễn tả muôn trùng gian khổ. Không chỉ vậy, thiên nhiên ấy còn đầy hoang sơ, huyền bí: Chiều thác hùng vĩ gầm thét/ ​​Đêm khuya hổ trêu người. Chiều về, tiếng thác đổ ầm ầm thể hiện sức mạnh hoang sơ, bản năng của núi rừng. Sự hung dữ của thiên nhiên được phóng đại trong tiếng gầm mạnh mẽ đó. Đêm đêm, tiếng hổ gầm vù vù đây đó đe dọa tính mạng con người… Giữa núi rừng hiểm trở, hiểm trở, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên đầy gian nan, gian khổ, hi sinh: Bạn tôi lếch thếch. không bước nữa Họ không chỉ mệt mỏi vì đường xa, mà còn vì đói, khát, bệnh tật… nhưng họ vẫn cố gắng tiến lên cho đến khi buộc phải nằm xuống trên đường hành quân. Lối nói tránh “không bước nữa”, “ngã súng quên đời” làm cho màu sắc thê lương, buồn bã bớt đi. Vì vậy, câu thơ nói về cái chết nhưng không mang màu sắc bi tráng.

Trên đường hành quân, với bao gian nan, vất vả, trước khung cảnh: “Mường Lát hoa về trong đêm/ Nghìn thước ngược ngàn thước/ Nhà ai Pha Luông mưa xa” đã làm người lính không thể nào quên. biết bao khó khăn, gian khổ, hy sinh. Trong những ngày dài hành quân, xa gia đình, xa quê hương, xa bè bạn bao nhiêu khổ đau, chỉ một mái nhà tranh ven đường cũng làm lòng ta ấm lại. Nhà của ai mà cứ ngỡ như nhà của chính mình, và ẩn chứa trong đó là một màn sương đầy thơ mộng và trữ tình. Và hai câu thơ kết bài đã tái hiện lại một khung cảnh hết sức thanh bình: Nhớ ơi Tây Tiến cơm cháy/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Sau bao gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, nghỉ chân tại một bản làng, quây quần bên nồi cơm nghi ngút khói. Nếu như câu thơ trên dùng ba thanh để gợi làn khói mỏng bay qua từng kẽ lá thì câu thơ cuối lại dùng cả thành phố bằng cách gợi sự dịu dàng, ấm áp. Đó là những kỉ niệm đẹp đẽ nhất, khắc sâu mãi trong tiềm thức của người lính Tây Tiến.

Ở khổ thơ tiếp theo, không khí náo nhiệt của một đêm hội vừa vui tươi vừa đầm ấm. Trong đêm hội ấy, đối với nhà thơ, hình ảnh nổi bật nhất là: Trại lửa đuốc sáng trưng. Từ “rực lửa” được coi là nhãn của câu thơ, gợi lên ánh sáng của những ngọn đuốc rừng rực như hoa lửa. Ánh sáng càng rực rỡ hơn khi kết hợp với sự lộng lẫy của những cô gái vùng cao xinh đẹp. Cô gái luôn tất bật và bận rộn hàng ngày xuất hiện như một nàng thơ, vô cùng xinh đẹp. Hai từ “kìa em” diễn tả trọn vẹn tiếng reo mừng, kèm theo sự ngạc nhiên của những người lính. Trong tiếng kèn man mác, cô gái e ấp, tình tứ trong vũ điệu khiến bao người mê mẩn. Những cô gái ấy chính là linh hồn của đêm nhạc.

Nếu bốn câu thơ trên rực rỡ, lung linh thì bốn câu cuối khổ thơ man mác, buồn bã. Cảnh thiên nhiên buổi chiều buông sương giăng tứ phía: Người về Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy một hồn lau bến bờ. Không gian mơ hồ, vừa hư vừa thực. Những dòng sông, bờ biển vắng lặng và hoang sơ, chỉ có những bông sậy trắng trải dài đung đưa theo chiều gió. Thiên nhiên có linh hồn, “hồn sậy” hài hòa với “hồn thơ” của người chiến sĩ đa cảm. Cũng có thể hiểu “tâm hồn cây sậy” là hình ảnh ẩn dụ độc đáo gợi vẻ đẹp giản dị, gần gũi, hồn hậu của người dân, người lao động trên sông nước mênh mông. Trên cái nền thiên nhiên tĩnh lặng và thơ mộng ấy nổi bật lên hình ảnh con người: Em có nhớ dáng em trên cây tùng/ Trôi nước hoa lay động. “Thân người” là hình ảnh nhiều mặt, có thể hiểu là dáng người con gái, dáng người lính hay dáng người ở đây. Nhưng nếu kết hợp với câu thơ dưới đây thì hình ảnh bóng dáng ấy phải là người con gái, “hoa đong đưa” cũng như ánh mắt lung linh, đằm thắm của người con gái. Khiến người lính dù đã rời chân mà lòng vẫn thổn thức bao nỗi nhớ.

Nếu như ở những câu thơ trên, hình ảnh những người lính Tây Tiến chỉ hiện lên một cách mờ nhạt thì ở khổ thơ cuối, hình ảnh của họ lại hiện lên vô cùng chân thực và rõ nét. Họ lần đầu tiên xuất hiện với một diện mạo khác lạ: Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc/ Quân xanh oai phong lẫm liệt. Đây đều là hậu quả của trận sốt rét rừng kinh hoàng mà ai cũng phải trải qua. Trong hồi ức của những người lính Tây Tiến trở về, bộ đội chết vì sốt rét rừng nhiều hơn vì chiến đấu vì rừng thiêng nước độc mà thuốc men không có. Tác giả không che giấu hiện thực, không nhìn nó bằng đôi mắt màu hồng mà miêu tả chân thực, chi tiết. Cách nói chủ động “không mọc tóc” nói đúng hơn là tóc không mọc được vì sốt rét tạo nên sự dữ dội, ngang tàng, hiên ngang của người lính Tây Tiến; Vẻ xanh xao vì đói khát, sốt rét của những người lính qua ngòi bút của Quang Dũng toát lên vẻ oai hùng, anh dũng.

Tuy nhiên, cái nhìn của Quang Dũng không chỉ hiện thực mà còn rất lãng mạn: Mở to mắt gửi mộng qua biên giới/ Nằm mơ thấy Hà Nội về đêm. Trái tim của những người lính đã trải qua bao bom đạn không hề chai lì mà vẫn nồng nàn, say đắm, khao khát một tình yêu “đêm mơ Hà Nội kiều thơm”. Dáng thướt tha ấy chẳng đâu khác chính là hình ảnh của những cô gái Hà thành. Những ước mơ mang hình bông hoa thơm đã trở thành động lực giúp người lính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ; thúc giục họ tiến lên; và cũng là sợi dây niềm tin thiêng liêng đã đưa họ trở về qua bom đạn.

Trong quá trình chiến đấu, không tránh khỏi những hy sinh, nhưng trên hết vẫn là lí tưởng, khát vọng sống cao đẹp: Rải rác biên cương mộ/ Ra chiến trường đi chẳng tiếc một đời xanh. Dù phải chiến đấu gian khổ, dù biết cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào nhưng các anh không nản chí mà lòng quyết tâm càng được nung nấu mạnh mẽ hơn. Đoạn thơ khép lại bằng sự hy sinh anh dũng của họ: Áo dài thay anh gánh đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Trong bài thơ, Quang Dũng không né tránh hiện thực phũ phàng. Trong lúc hành quân, nhiều chiến sĩ không vượt qua được đã ngã mũ sắt, quên mạng. Dọc đường Tây Tiến còn biết bao nấm mồ liệt sĩ “Rải rác nơi biên ải đất xa”… Và bây giờ, một lần nữa tác giả lại nhắc đến sự ra đi của họ. Người lính Tây Tiến gục bên vệ đường, không còn mảnh chiếu che thân. Tuy nhiên, tác giả đã cố gắng giảm bớt tính chất bi thảm của sự mất mát: tà áo dài (áo ngoài của các tướng lĩnh ngày xưa) đã biến họ trở thành những chiến tướng sang trọng; Về đất là nói giảm nói tránh thanh thản, vô tư sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Và dòng sông Mã gầm lên dữ dội, hào hùng tiễn đưa người lính về với đất mẹ.

Bốn dòng cuối bài thơ như một lời thề sắt son của những người lính Tây Tiến, họ ra đi không hẹn ngày về, tất cả sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Hai câu thơ cuối như một lời khẳng định chắc chắn rằng dù đã đi xa nhưng tâm hồn giàu cảm xúc của người lính Tây Tiến vẫn luôn lưu luyến những tháng ngày, những nơi đoàn quân Tây Tiến đã đi qua.

Tây Tiến – bài thơ đã xây dựng đủ và chân thực nhất vẻ đẹp của người lính. Cả hai đều mang trong mình sự bay bổng, lãng mạn nhưng đồng thời cũng rất kiên cường, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập chung của Tổ quốc. Để tạo nên sự thành công của tác phẩm không thể không kể đến những đóng góp về mặt nghệ thuật như hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu… Tất cả kết hợp hài hòa tạo nên một bài thơ xuất sắc.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 12 luyện thi THPT Quốc gia:

tay-tien.jsp

Các bộ đề lớp 12 khác

Bạn thấy bài viết Top 3 bài Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Top 3 bài Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất bên dưới để Trường THPT Nguyễn Chí Thanh có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenchithanhag.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

Nhớ để nguồn bài viết này: Top 3 bài Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất của website thptnguyenchithanhag.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm chi tiết về Top 3 bài Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất
Xem thêm bài viết hay:  50+ mẫu Phân tích bài thơ Sở kiến hành (Những điều trông thấy) | Văn mẫu lớp 9

Viết một bình luận