Top 2 bài Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ hay nhất – Ngữ văn lớp 11

Bạn đang xem: Top 2 bài Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ hay nhất – Ngữ văn lớp 11 tại thptnguyenchithanhag.edu.vn

Đề bài: Cảm nhận về các ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài Thương vợ

Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông mang đậm âm hưởng dân gian, đặc biệt thể hiện ở ngôn ngữ sử dụng trong thơ. Bài thơ Thương vợ là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất chất dân gian trong tác phẩm.

Trước hết, về ngôn ngữ, bài thơ được viết bằng chữ Nôm, từ ngữ sử dụng trong bài rất giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Bài thơ không sử dụng bất kỳ truyền thuyết hay sự kiện lịch sử nào mà hoàn toàn là ngôn ngữ của nhân dân. Ca từ giản dị, gần gũi với lối nói truyền miệng, đây có thể coi là những lời tâm sự hết sức chân thành mà giản dị của anh dành cho người vợ thân yêu của mình. Một mình bà Tú vất vả, làm lụng vất vả để nuôi sống cả nhà, không gian lao động chật chội “mom sông”, “trống vắng”, “ngày đông”, tất cả những vất vả, nhọc nhằn đó Tú Xương đều vô cùng trân trọng, nâng niu. Dù không giúp được gì cho bà Tú nhưng có lẽ ánh mắt yêu thương và biết ơn của ông luôn dõi theo từng bước đi của bà. Không những thế, ngôn ngữ cũng rất dung dị, đậm chất khẩu ngữ: “Cha mẹ có thói đời” những tiếng chửi trong thơ Tú Xương rất tự nhiên, giàu tính khẩu ngữ, góp phần tô đậm chất dân gian của tác phẩm. .

Trong tác phẩm, Tú Xương đã nắm vững thành ngữ, tục ngữ, làm cho câu ca dao đậm chất dân gian:

Một duyên hai duyên

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Lấy Tú Xương đối với bà Tú vừa là duyên vừa là nợ. Ở đây tác giả đã sử dụng vô cùng tài tình và linh hoạt các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”. Duyên ở đây thì ít (một duyên) mà nợ ở đây thì nhiều (hai nợ), nhưng đã là duyên thì bà Tú đành chấp nhận, không kêu ca, không oán trách “cháu ơi”. . Câu này làm ta nhớ đến câu ca dao xưa của ông cha ta:

“Một duyên, hai nợ, ba tình”

Ngẫm bên anh canh năm canh”

Hay: “Chồng nào, vợ nào?

Chẳng qua là nợ đời mà thôi.”

Tú Xương đã vận dụng rất sáng tạo những câu nói, câu nói dân gian để khẳng định, ca ngợi sự hi sinh thầm lặng, nhẫn nhịn của bà Tú với chính mình trong mối lương duyên này. Hơn ai hết, bà Tú là người ý thức rõ nhất rằng lấy ông Tú là số mệnh, định mệnh cố hữu của mình nên dù “những ngày mưa gió” vất vả, bà phải lội đồng hoang, tranh cướp ở đâu. bóng tối. Kể cả ngày đông khách, cô nàng cũng không “dám quản công”. Cô không kêu ca hay phàn nàn mà thực hiện đó như nghĩa vụ của mình. Đây là vẻ đẹp phẩm chất vốn có, nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Câu thơ cũng thể hiện tình yêu thương vợ của Tú Xương, ông thấu hiểu hết những nỗi khổ mà bà Tú phải chịu đựng. Từ tình thương, ông Tú cũng biết ơn và trân trọng sự hi sinh thầm lặng của bà Tú cho gia đình.

Không chỉ vậy, hình ảnh trong bài thơ còn mang đậm tính dân gian, thể hiện rõ nhất qua hình ảnh con cò. Con cò là hình ảnh quen thuộc trong ca dao, dân ca, nó gợi lên nỗi khắc khoải, nhọc nhằn của người nông dân giữa cuộc đời đầy sóng gió:

“Con cò đi ăn đêm

Đậu cành mềm, lộn cổ xuống ao…”

Hay: “Con cò lặn lội bờ sông

Mang gạo nuôi chồng có tiếng khó nghe”

Và bà Tú cũng là một trong số những con cò làm việc cật lực đó: “Lặn mất tăm hơi”. Nghề buôn gạo của bà Tú nơi mẹ sông Vị Hoàng với biết bao hiểm nguy có thể gặp phải, đó là những ngày đi sớm về khuya một mình “đồng vắng” là những ngày chợ đông bon chen. chen, tranh. cướp giật, tranh giành nhau “con thuyền đông người” đầy bất trắc, nguy hiểm. Chỉ với một từ “thân cò” nhưng Tú Xương đã khái quát khá đầy đủ cuộc đời vất vả, gian khổ của bà Tú, không những thế còn cho người đọc thấy thêm những đức tính cao quý của bà: dũng cảm, tháo vát, cần mẫn nuôi chồng nuôi con. . Cô ấy là một phụ nữ Việt Nam điển hình.

Giọng điệu của bài thơ có sự kết hợp hài hoà giữa giọng trữ tình và giọng tự sự, trong đó giọng trữ tình là chủ đạo. Giúp bộc lộ những cảm xúc của tác giả: lòng biết ơn đối với người vợ chịu thương, chịu khó, chịu khó, nhọc nhằn; là bài thơ tự ti về bản thân, trở thành gánh nợ cho gia đình. Đằng sau đó, Tú Xương bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bà Tú.

Với việc sử dụng linh hoạt, tài tình các chất liệu dân gian từ ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu… Tú Xương đã làm nổi bật lên nỗi vất vả cũng như vẻ đẹp, phẩm chất của bà Tú. Bên cạnh đó, bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến vợ Táo Khang. Đồng thời cũng khẳng định tài năng nghệ thuật bậc thầy của Tú Xương.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

viet-bai-lam-van-so-2.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Top 2 bài Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ hay nhất – Ngữ văn lớp 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Top 2 bài Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ hay nhất – Ngữ văn lớp 11 bên dưới để Trường THPT Nguyễn Chí Thanh có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenchithanhag.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

Nhớ để nguồn bài viết này: Top 2 bài Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ hay nhất – Ngữ văn lớp 11 của website thptnguyenchithanhag.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm chi tiết về Top 2 bài Cảm nghĩ về ngôn ngữ, âm điệu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong bài thơ Thương vợ hay nhất - Ngữ văn lớp 11
Xem thêm bài viết hay:  Dàn ý Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Viết một bình luận