Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng hay nhất – Ngữ văn lớp 10

Bạn đang xem: Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng hay nhất – Ngữ văn lớp 10 tại thptnguyenchithanhag.edu.vn

Bài giảng: Phú sông Bạch Đằng – Cô Trương Khánh Linh (giáo viên )

Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu.

Văn học nước nhà đã ghi lại nhiều hình ảnh đẹp. Là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn với bao trăn trở về tinh thần kẻ sĩ trong Bài học bất hủ. Như vị vua Lý Công Uẩn đầy tài hùng biện, hy vọng vào tương lai đất nước trong Chiếu dời đô. Là người dựng nước, chí khí của Nguyễn Trãi hào sảng, chí khí trong Đại cáo bình Ngô. Và khoảng 50 năm sau chiến thắng trên sông Bạch Đằng, có một Trương Hán Siêu đầy hoài niệm về những kỳ tích đi vào lịch sử dân tộc ở Phú sông Bạch Đằng. Nhưng để thể hiện và thể hiện được tình cảm đó, nhà Nho thời Trần đã gửi gắm qua hình tượng nhân vật khách, một sự sáng tạo thành công về mặt nghệ thuật khiến Phú sông Bạch Đằng trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc. của thơ trung đại.

Theo đặc trưng của thể loại cổ đại phú, hiệp khách là một nhân vật do tác giả hư cấu, tưởng tượng, xây dựng dưới dạng đối đáp với một nhân vật nào đó (ở bài này là với các bô lão). Ở Phú sông Bạch Đằng, khách trở thành hình ảnh trung tâm. Tác phẩm về mặt kết cấu văn bản vẫn đáp ứng đầy đủ bốn đoạn thông thường (mở bài, giải thích, bình luận và kết bài) nhưng cũng đầy đủ cảm bài dựa trên mạch cảm xúc của nhân vật khách. Đó là sự thể hiện thiết tha của bài trí tứ phương và cảm nghĩ về quá khứ oanh liệt của dân tộc năm xưa trên sông Bạch Đằng. Có lẽ vì thế mà nhiều người hiểu rằng, khách chính là cái tôi của tác giả, là sự hóa thân tài tình của một thi nhân, một kẻ lãng du và một bậc anh hùng chứa đựng nhiều câu chuyện về đất nước.

Và ở đầu bài, khách hiện lên trong tâm trí một người khách, một người đàn ông, một nghệ sĩ lãng mạn, phóng khoáng, mang theo phong lưu bốn phương.

Khách có kẻ:

Bay lên trong gió để chơi với

Học Tử Trường chờ tiêu tiền

Qua những hình ảnh ước lệ, phóng đại chèo thuyền trong gió, lướt bể chơi trăng, sớm gõ thuyền, chiều thăm hiện lên hình bóng một con người có tâm hồn phóng khoáng, thích ngao du. Người khách ăn mặc như đang múa với gió và trăng, suốt ngày bơi lội. Hai chữ buông lơi và đắm say, làm đắm say đắm say, chìm đắm trong mộng hồ. Sự liệt kê đã đưa du khách đến với những cảnh đẹp của Trung Quốc, rồi ngược thuyền ngược dòng sông Bạch Đằng. Những vùng đất phương Bắc khác, tuy du khách chưa từng đặt chân, đôi khi chỉ biết qua sách vở, nhưng đã cho thấy sự hiểu biết rộng rãi của một bậc nho sĩ và sự trang nghiêm bốn phương của kẻ lãng du. Đi để khám phá thiên nhiên, để mở mang kiến ​​thức. Vì thế, người đi đâu, về đâu không biết, tuy mấy trăm trong lòng là nhiều, nhưng bài trí bốn phương vẫn tha thiết. Khát vọng và hoài bão được tận hưởng, cứ thế du hành. Vì vậy, chuyện của Tử Trường không phải là học cách chép sử, mà là học cái sở thích. Cái học đó là để đắm mình trong cảnh vật, học sử, để trau dồi kiến ​​thức và cũng là để bày tỏ tình cảm của mình.

Sau đó, cùng một cảnh xuất hiện:

Qua cổng Đại Than, đối diện bến Đông Triều

Trời: một màu, cảnh: ba mùa thu

Theo cánh buồm nhẹ nhàng, du khách chầm chậm đi qua từng điểm để đến với sông Bạch Đằng. Và một cảnh tượng kinh ngạc hiện ra trước mắt họ: một khung cảnh tuyệt đẹp của mùa thu. Bức thư pháp đầy tính chất tả thực lãng mạn, một bức tranh thủy mặc trên sông đẹp đến từng đường nét. Đó là bát ngát sóng ngàn dặm của một Bạch Đằng không lúc nào ngơi nghỉ, những con thuyền thong dong như cánh chim trĩ đuôi một màu trời, màu nước mênh mông như hòa vào nhau của một Bạch Đằng thơ mộng. . , đẹp. Phải là một tâm hồn yêu thiên nhiên, có con mắt nghệ sĩ và óc hội họa, Trương Hán Siêu mới có thể vẽ nên một bức tranh mùa thu đẹp đến thế. Cứ thế cảm xúc tự nó cứ reo lên hân hoan, thích thú trong tâm hồn thực khách. Có thể thấy, ngay những dòng đầu tiên của bài, khách đã tạo được tâm trạng với cảnh vật trang trí bốn phương bao la của một nghệ sĩ lãng mạn, phóng khoáng và một nhà nho uyên bác.

Cảm xúc trước thiên nhiên tươi đẹp của các thi nhân, thi nhân trên đây khiến ta liên tưởng đến hình bóng của Nguyễn Bỉnh Khiêm “Thu ăn măng, đông ăn giá đỗ/ Xuân tắm hồ sen, hè tắm ao” (Nhàn ) nhưng họ Trương không thể hiện được phẩm hạnh thanh cao như Trạng Trình; Thậm chí có thể thấy bóng dáng của Cao Bá Quát “Phía Bắc núi Bắc núi miên man/Phía Nam núi Nam sóng dập dềnh” (Bài ca ngắn Đi trên bãi cát) mà khách Trần Quốc Tuấn đã làm. không thể hiện sự cay đắng hay thất vọng. như Tào Tử. Trương Hán Siêu đến với thiên nhiên vừa để thỏa chí phiêu du, vừa để thỏa lòng mong muốn hiểu biết thêm về cảnh sắc nước nhà, vừa để bày tỏ lòng tự hào về những chiến công hiển hách của cha ông năm xưa. Vì vậy, khách mới hiện lên chân dung của một trí thức yêu nước, nặng tình với sông núi.

Nhưng giờ phút này, đứng trước Bạch Đằng, cảm giác hân hoan trước vẻ đẹp của nó đã không còn nữa, bởi khung cảnh của chiến thắng xưa giờ chỉ còn là:

Bờ sậy gần, bến buồn

Thật không may, dấu vết luống cày vẫn còn để lại!

Lối viết hiện thực dường như đã vẽ nên một khung cảnh hoàn toàn trái ngược. Khách nhìn chiến trường xưa sao đìu hiu thê lương! Đôi bờ lau sậy, bến đò qua hai chữ gần nhau, sầu mà chất chứa bao nỗi niềm. Dòng sông cuồn cuộn sóng biển giờ chỉ còn giáo gãy, xương khô nhưng bi thương. Trong khung cảnh ấy, tâm hồn người khách kia chợt chùng xuống, với đôi mắt buồn, một khoảng lặng, và cúi đầu than khóc, ngậm ngùi, ngậm ngùi. Cảm xúc thay đổi chóng vánh, đầy bi thương, bởi sức ăn mòn của thời gian đã làm phai mờ dấu tích của một quá khứ hào hùng. Và sau này nhà thơ Nguyễn Trãi cũng không tránh khỏi điều đó khi đến đây:

Công việc trước quay lại, ôi thôi rồi

Đi xếp hàng ngắm cảnh đượm buồn

(Cửa biển Bạch Đằng)

Để rồi bao nhiêu niềm thương bị dồn nén hóa ra lại đẩy lên trong lòng nhà thơ một niềm khao khát được một lần sống lại những giờ phút hào hùng như ngày xưa. Chính vì vậy có sự xuất hiện của những nhân vật bô lão – những người ở trong cuộc, đã chứng kiến, đã tham gia, nay tái hiện, phục dựng lại quá khứ ấy để gieo vào lòng thực khách niềm kiêu hãnh, tự hào về những cuộc chiến. chiến thắng oanh liệt trên dòng sông lịch sử năm xưa. Thật không sai khi ca ngợi sông Bạch Đằng là dòng sông nổi tiếng và huyền thoại nhất. Vì hai trận Trùng Hưng Nhị Thành và Ngõ Chùa năm xưa không cho quân thù một chút vinh quang, rung chuyển trời đất, vũ trụ nằm trong non sông ấy. Biết bao cảm hứng lịch sử ùa về trong truyện kể. Nhân vật khách tuy không tham gia vào câu chuyện của bô lão nhưng ta vẫn nhận thấy khách tuy ẩn nhưng vẫn hiện lên bằng cảm xúc. Lối trần thuật đậm tính ước lệ, cường điệu xen lẫn cảm hứng vũ trụ đã tái hiện sinh động, hoành tráng, hào hùng những trận đánh năm xưa. Từ lúc bại trận, nhật nguyệt phải mờ, trời đất sắp thay đổi cho đến khi quân thù tan thành tro bụi, chết hẳn, là một nỗi nhục muôn đời không thể gột rửa. Đằng sau tất cả là niềm tự hào và phấn khích của những vị khách. Bao cảm xúc buồn trước đó tan biến, nhường chỗ cho niềm tự hào, mãn nguyện, khâm phục về một thời hào hùng, về một truyền thống yêu nước bất diệt không bao giờ mất đi. Những vị khách cứ thế đồng ý với lời giải thích về nguyên nhân những chiến thắng đó của các bô lão. Cũng là người thấu hiểu, thấu suốt chân lý cuộc đời và cốt lõi của lịch sử, khách nhận thấy trời có lúc, địa lợi nhưng nhân hòa phải có thì mới thành công. Và quan khách hết lời ca ngợi những bậc anh hùng đó, đặc biệt là những vị thánh đế biết thu phục lòng người, giữ thái bình với đức sáng soi khắp sông núi. khắc vào lịch sử những chiến công hiển hách đó. Bài hát cuối cùng của khách vang nhịp sóng Bạch Đằng:

Hai thánh chiến binh

Sông này mấy lần giặt áo giáp

Chiến tranh mãi mãi tan vỡ và hòa bình

Vì đâu đất hiểm ta đức cao?

Phải chăng những con sóng cuộn trào của Bạch Đằng giang đổ ra biển Đông cũng là tiếng lòng của nhà thơ và sóng? Có sự quay cuồng mạnh mẽ về một quá khứ xa xăm, nhưng cũng có sự quay cuồng của cảm xúc và trăn trở về thời cuộc và xã hội lúc bấy giờ. Khách qua đó khơi dậy những giá trị lịch sử rất thiêng liêng của dân tộc, đề cao vị trí, vai trò của con người trong lịch sử nhưng cũng ngầm gửi gắm những tâm sự của thời cuộc mà ông không thể nói nên lời.

Bằng phong cách rất đặc trưng của thơ ca và văn học trung đại, nhân vật khách được khắc họa thành công trong bài thơ, trở thành một hình tượng nghệ thuật đặc sắc của văn học giai đoạn này. Có thể nói, ăn khách đã hội tụ và kết tinh tất cả những phẩm chất nhân văn của chính tác giả. Khách đã khẳng định cái tôi của một nghệ sĩ hoài cổ, từ đó giúp Trương Hán Siêu gửi gắm những giá trị tư tưởng về lịch sử thiêng liêng, truyền thống vẻ vang của dân tộc vào bài viết.

Xem thêm các bài văn mẫu phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 10 khác:

Các bài giải bài tập lớp 10 sách mới:

Phu-song-bach-dang.jsp

Giải bài tập lớp 10 theo sách mới môn học

Bạn thấy bài viết Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng hay nhất – Ngữ văn lớp 10 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng hay nhất – Ngữ văn lớp 10 bên dưới để Trường THPT Nguyễn Chí Thanh có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenchithanhag.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

Nhớ để nguồn bài viết này: Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng hay nhất – Ngữ văn lớp 10 của website thptnguyenchithanhag.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm chi tiết về Phân tích hình tượng nhân vật khách trong bài thơ Phú sông Bạch Đằng hay nhất - Ngữ văn lớp 10
Xem thêm bài viết hay:  Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam hay nhất (dàn ý - 7 mẫu)

Viết một bình luận