Bình giảng đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Bài 2)

Bạn đang xem: Bình giảng đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Bài 2) tại thptnguyenchithanhag.edu.vn

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm:

“Bên kia sông Đuống

Quê hương ta hương nếp thơm

(…) Đám cưới chuột tưng bừng tưng bừng

Bây giờ đi đâu?”…

Nếu thơ ca là tiếng vọng của lòng người theo năm tháng, để suốt đời thương nhớ thì bài thơ “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm là một bài thơ có tính chất huyền diệu như thế. Một đêm tháng 4 năm 1948, đang sống và chiến đấu ở núi rừng Việt Bắc, nhà thơ nghe tin quê hương bị giặc Pháp chiếm đóng, hoang tàn đổ nát, chỉ trong một hai ngày ông đã sáng tác bài thơ này. “Bên kia sông Đuống” xuất hiện lần đầu tiên trên báo Cứu quốc vào tháng 6 năm 1948, nhanh chóng được phổ biến rộng rãi từ Chiến khu Việt Bắc đến Khu Ba, Khu Bốn, Nam Bộ và ra tận Côn Đảo. Đó là một trong những bài thơ viết về quê hương hay nhất trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.

Trong mục “Vị Thanh” của tập thơ “Về Kinh Bắc” in năm 1994, nhà thơ Hoàng Cầm có viết đôi dòng về xuất thân và cảm hứng sáng tác bài thơ “Bên kia sông Đuống”: “… trằn trọc, thao thức, suy nghĩ, rối bời sau khi nghe tin quê hương bị giặc tàn phá, giết chóc, tôi chưa định viết gì, sau nửa đêm trời đã yên, ba câu văn chợt vang bên tai:

“Bé buồn vì điều gì

Anh đưa em sang bên kia sông Đuống

Ngày xửa ngày xưa… cát trắng phẳng lì…”.

Tôi chộp lấy, ghi ngay và như một dòng cảm xúc dài, viết rất nhanh, sợ không theo kịp những âm hưởng nhịp nhàng đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng. Đến sáng sớm thì bài thơ đã xong, một trong những bài thơ được gần nửa thế kỷ nay già trẻ lớn bé đều yêu thích…”.

Mười dòng đầu của bài thơ, nhà thơ đã nói lên niềm nhớ mong của mình đối với dòng sông Đuống thân yêu. Nỗi nhớ nhung gắn liền với đau thương “như cụt một bàn tay!”. Tiếp theo là phần chính của bài thơ gợi lên cảnh điêu tàn, điêu tàn của quê hương yêu dấu:

“Bên kia sông Đuống

….

Bây giờ anh đi đâu?”

Đoạn thơ 15 câu là sự thể hiện tấm lòng tha thiết, khắc khoải của người con đi xa về nơi chôn rau cắt rốn. Một tình yêu quê hương dịu dàng. “Bên kia sông Đuống” – Bên này là miền đất tự do, nhà thơ hướng lòng về “Bên kia” là vùng bị quân thù chiếm đóng, giày xéo. Đó là lĩnh vực Thuận Thành yêu thích.

“Quê hương tôi” thật đẹp. Một vùng quê trù phú đáng yêu. “Hương nếp thơm” từ những cánh đồng quê xanh mướt đã lan tỏa theo không gian và thời gian, đã thấm sâu vào tâm hồn con người không thể nào xóa nhòa. Đậm đà hương vị quê hương không phải là “canh rau muống nấu tương cà” mà là “hương nếp nồng” – hương thơm ngào ngạt dậy lên trong những ngày vào gặt, trong hương cốm mới, trong hương cốm mới, trong hương cốm mới. mâm cỗ ngày giỗ. Tết… đã thấm đượm một tình quê thắm đượm. Trong khói lửa chiến tranh, người con xa quê làm sao quên được “mùi nếp thơm” của quê hương?

Kinh Bắc – quê hương Hoàng Cầm thân yêu là vùng đất cổ có bề dày văn hiến qua các triều đại phong kiến ​​Lý, Trần, Lê. Là quê hương của những phi tần, hoàng hậu, cành vàng lá ngọc… Là nơi sản sinh ra biết bao trạng nguyên, tiến sĩ của nước ta mà câu ca dao đã khắc ghi theo năm tháng: “Một chồng cống – Một đống nghèo một đống”. ông – Một bè tiến sĩ – Một trạng nguyên – Một thuyền ván bôi mỡ…”. Là một vùng quê có nhiều danh lam thắng cảnh, núi tiên, núi gấm, chùa chiền… đã đi vào cổ tích. Là quê hương của những lễ hội dân gian: “Mồng bảy hội Khảm, mồng tám hội Dâu – Mồng chín hội Gióng khắp nơi” (Tục ngữ). Thương nhớ “Quê hương ta” Tiếng thơ Hoàng Cầm tha thiết, tự hào:

“Tranh Đông Hồ gà lợn tươi trong,

Màu áo Tổ quốc sáng trên trang giấy điệp”.

Những từ láy “tươi trong”, “sáng sủa” đường nét miêu tả, màu sắc trong sáng, rực rỡ, thanh nhẹ đẹp đẽ… đã làm sống dậy trong tâm hồn ta những bức tranh dân gian với đề tài bình dị, thân quen. treo ngày Tết đón xuân. Tranh gà lợn, tranh đánh đu, đấu vật, tranh Con cóc, tranh Cóc ông đồ, đám cưới chuột, tranh dừa, tranh đánh ghen, Bà Trưng cưỡi voi ra trận, tranh Phù Đổng Thiên Vương… đều được miêu tả. khát vọng, ước mơ của dân tộc ta từ ngàn đời nay. Cảnh sắc làng quê, sinh hoạt của làng quê “mấy trăm năm ước mơ êm đềm…” như “sáng” lên trong tâm hồn mỗi chúng ta, “sáng trên trang giấy”. Tranh Đông Hồ thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam. Trên nền giấy dó có một lớp dó mỏng óng ánh làm nền, chắt lọc từ vỏ sò, các màu sắc của tranh Đông Hồ: màu son, màu sim tím, màu cánh sen, màu vàng nghệ, màu xanh gỉ đồng, màu lá chuối. lụa… đúng là “màu cờ sắc áo” đang làm “sáng bừng” quê hương Kinh Bắc.

“Mấy trăm năm mộng êm đềm”,… còn đâu? Từ hồi ức nỗi nhớ, giọng thơ nên buồn, giận, nghẹn ngào. Khung cảnh thanh bình trên quê hương Kinh Bắc tan tành. Quê hương chìm trong bóng quân thù. Giặc đến chà đạp, đốt phá, giết chóc. Bao trùm làng quê là “ngọn lửa” chết chóc:

“Quê hương tôi từ ngày khủng khiếp

Kẻ thù đã kéo lên một ngọn lửa dữ dội.”

Lời thơ như một tiếng nấc nghẹn ngào và giận dữ. Câu thơ bỗng rút gọn còn 3, 4 chữ. Những hình ảnh tang thương, đổ nát nối tiếp nhau như một thước phim, một đoạn phim quay cận cảnh khiến bao con tim đau xót:

“Cánh đồng tôi khô cằn

Ngôi nhà của chúng tôi đang cháy

Chó gặp bầy đàn

Lưỡi lê dài đẫm máu

Kiệt và ngõ vắng”.

Cả một không gian rộng lớn bị đốt cháy, bị giày xéo. Sự sống bị hủy hoại đến mức “cạn kiệt”. Ruộng, vườn, nhà cửa bao đời nay của nhân dân ta bỗng chốc bị “ngọn lửa” hung hãn “làm khô” và “thiêu rụi”. Màu xanh tươi của lúa, ngô, khoai đã héo úa. Ngôi làng hoang tàn. “Vực thẳm bờ hoang” vốn là một nơi hẻo lánh, ẩn mình trong sa mạc nhưng từ ngày “khủng” còn bị quân xâm lược tàn phá đến “cạn kiệt” tinh thần. Nếu như trong “Bình Ngô Đại Cáo”, Nguyễn Trãi đã giận dữ lên án quân “Minh cuồng” là “hung dữ”, là quân “bạo ngược”, vô cùng ghê tởm: “Há mồm ra, nhe răng ra, máu tươi đầm đìa. còn béo chưa no” thì ở đây Hoàng Cầm đã khinh và ghét bọn Pháp như một lũ “chó ngộ” – chó điên – “lưỡi lê đẫm máu”. Hình ảnh thơ về quân xâm lược rất sáng tạo, đã khơi dậy bao căm phẫn quân xâm lược suốt nửa thế kỷ qua.

Kẻ thù đã đến chiếm và phá hủy quê hương. Nỗi đau thể xác cùng với nỗi đau tinh thần dường như được nhân lên gấp nhiều lần. Chùa chiền bị phá hủy. Còn đâu tiếng chuông sớm chiều? Tranh Đông Hồ còn đâu? “Âm dương lợn”, “Đám cưới chuột”… là hai bức tranh nổi tiếng thể hiện ước mơ hạnh phúc, ấm no và cách ứng xử của nhân dân không có tội tình gì đã bị giặc tiêu diệt. cùng” đau!

“Hai mẹ con đàn lợn âm dương

cách chia tay

Đám cưới chuột tưng bừng

Bây giờ anh đi đâu?”

Thực và ảo dường như bị trộn lẫn vào nhau, hình ảnh “phân tán” trong tranh trở thành hiện thực “khủng khiếp” ngoài đời thực. Trong những câu thơ trên, nỗi đau và sự căm thù được khắc sâu bởi sự tương phản giữa hai cảnh trước và sau, hòa bình và chiến tranh, sự tương phản giữa ngôn từ – Xưa, những năm hòa bình “tưng bừng, rộn rã”, “bây giờ” khi nào. giặc đến, “chia cắt hai bên”, “phân tán đi đâu?”.

Bài thơ “Bây giờ em đi đâu?” và “Đi đâu bây giờ” là những câu thơ hay, cảm động, được lặp đi lặp lại nhiều lần như một điệp khúc. Nỗi đau xé lòng. Quê hương mịt mù khói lửa. Nỗi đau đớn dường như không có giới hạn, thật không thể diễn tả được!

Viết về tội ác của quân xâm lược, hầu như nhà thơ nào cũng để lại những vần thơ thiết tha, xúc động lòng người. Đó là những “bài thơ một thời”:

“Bỗng cuối mùa chiêm giặc đến

Ngõ chùa cháy đỏ giàn cau”.

(“Núi Đôi” – Vũ Cao)

“Quân về thù chuốc lấy máu đau

Lòng sông đau, ngọn cỏ đau.”

(“Quê hương” – Tố Hữu)

“Ngôi làng của chúng tôi đã bị đánh bom nhiều lần

Dừa ngổn ngang, teo bờ tre”.

(“Về quê ngoại” – Lê Anh Xuân)

Thơ hay là thơ có hồn. Đoạn thơ trên, từ cảm xúc đến ngôn ngữ, hình ảnh đã để lại trong lòng người đọc những tình cảm sâu sắc và ấn tượng mạnh mẽ về tình người, quê hương, đất nước. Kết cấu bài thơ được chia thành hai mảng đối lập: quá khứ êm đềm, hạnh phúc, tươi đẹp với hiện tại đau thương, tang thương, như một lời lên án mạnh mẽ quân xâm lược. Nỗi nhớ quê hương đẹp đẽ gắn liền với hiện tại điêu tàn, để ta “nhớ”, để ta “tiếc” và giận. Tình yêu quê hương đất nước, yêu dòng sông Đuống “ngày xưa”, yêu hương sắc của lúa ngô khoai, tranh Đông Hồ… được Hoàng Cầm thể hiện một cách tha thiết, sâu lắng. Cái chất Kinh Bắc được thể hiện một cách tài hoa và độc đáo đã tạo nên vẻ đẹp thẩm mỹ của bài thơ “Bên kia sông Đuống” để chúng ta yêu mến, trân trọng.

Các bộ đề lớp 12 khác

Bạn thấy bài viết Bình giảng đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Bài 2) có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Bình giảng đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Bài 2) bên dưới để Trường THPT Nguyễn Chí Thanh có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: thptnguyenchithanhag.edu.vn của Trường THPT Nguyễn Chí Thanh

Nhớ để nguồn bài viết này: Bình giảng đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Bài 2) của website thptnguyenchithanhag.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm chi tiết về Bình giảng đoạn thơ trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm (Bài 2)
Xem thêm bài viết hay:  Top 3 bài Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Viết một bình luận